Đang tải... Vui lòng chờ...

Bàn về bảo tồn di sản văn hóa Huế gắn với phát triển bền vững

Bàn về bảo tồn di sản văn hóa Huế gắn với phát triển bền vững

PGS.TS. Đặng Văn Bài

Phó chủ tịch Hội di sản văn hóa Việt Nam

1.Tạo lập và duy trì sự “cân bằng động” giữa bảo tồn và phát triển bền vững là nhu cầu cấp thiết nhất

- “Tăng trưởng kinh tế luôn phải đi đôi hoặc song hành với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”

- Môi trường ở đây được hiểu ở hai khía cạnh môi trường tự nhiên môi trường văn hóa - xã hội. Đây là 2 loại tài nguyên: Thiên nhiên và văn hóa - không gian sinh tồn và cũng là nguồn sống nuôi dưỡng con người con người cả về vật chất lẫn tinh thần. Bởi vậy, việc duy trì sự cân bằng động giữa hai yếu tố có mối quan hệ tương tác chặt chẽ nêu trên là nhu cầu không thể thiếu để phát triển bền vững.

Thủ tướng Chính phủ:

- Phát huy tối đa lợi thế so sánh của Cố đô Huế, xây dựng thành phố Huế thành trung tâm hành chính, kinh tế, chính trị của tỉnh, trung tâm du lịch - văn hóa, thành phố festival  đặc trưng của Việt Nam, trung tâm đào tạo chất lượng cao, trung tâm y tế chuyên sâu và trung tâm khoa học của cả nước, trung tâm thương mại và dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và khu vực miền Trung - Tây Nguyên

- Phương hướng phát triển văn hóa - xã hội của Huế là “giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới, xây dựng Thừa Thiên Huế thành một trung tâm văn hóa - du lịch đâm đà bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa Huế. Hoàn thành cơ bản công tác trùng tu, bảo tồn và tôn tạo di tích Cố đô Huế

“Cân bằng động giữa bảo tồn và phát triển” cần được hiểu như là sự tác động tương hỗ một cách tích cực giữa hai mặt hoạt động xã hội:

- Bảo tồn di sản văn hóa với tư cách là nguồn động lực thúc đẩy chứ không được cản trở phát triển.

- Phát triển phải tạo thêm nguồn lực (đặc biệt là nguồn lực tài chính) đầu tư trở lại cho việc bảo tồn di sản văn hóa nhưng không được tác động tiêu cực tới yếu tố gốc cấu thành giá trị của di sản.

- Phát triển du lịch bền vững cần được nhìn nhận như một phương thức hữu hiện để quảng bá, đưa giá trị di sản văn hóa tới gần hơn với công chúng trong toàn xã hội.

Luật di sản văn hóa: “Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:

 

  •    Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội.
  •    Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
  •    Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế”

Đặc trưng nổi trội:

 

  1.    Di sản văn hóa là sự kết tinh các giá trị văn hóa truyền thống và đồng thời là những biểu hiện dễ nhận biết nhất về bản sắc văn hóa dân tộc.
  2.    Di sản văn hóa là “thứ công cụ” hữu hiện cho việc giáo dục hình thành nhân cách văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển.
  3.    Di sản văn hóa có khả năng tạo lập và duy trì môi trường xã hội lành mạnh thu hút nguồn lực và sự đầu tư cho phát triển.
  4.    Di sản văn hóa là phương tiện giao lưu văn hóa và hội quốc tế.
  5.    Di sản văn hóa là loại tài nguyên nhân văn - yếu tố quan trọng cấu thành một sản phẩm du lịch.

 

Thống kê về kết quả hoạt động phát huy giá trị các di sản thế giới ở Việt Nam gắn với phát triển du lịch cho thấy, các khu di sản thế giới của Việt Nam năm 2017:

  •    Thu hút được 17,76 triệu khách, trong đó có hơn 6,5 triệu khách quốc tế
  •    Nguồn thu từ vé tham quan là 1.456 tỷ đồng.
  •    Riêng quần thể di tích Cố đô Huế trong năm 2017 cũng đón được khoảng 3 triệu khách du lịch trong đó có 1,8 triệu khách quốc tế, thu từ phí tham quan được 320 tỷ đồng, tăng gần 4 lần so với năm 2011.

Bảo tồn di sản văn hóa Cố đô Huế theo tinh thần của Luật di sản văn hóa và phương hướng phát triển văn hóa xã hội được đặt ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là một trong những tiền đề quan trọng để tạo lập và duy trì “sự cân bằng động” giữa bảo tồn và phát triển bền vững.

 

2.Bảo tồn di sản văn hóa chính là phát huy lợi thế so sánh của Huế phục vụ cho phát triển bền vững.

Đây là một thành phố di sản - nơi có sự hài hòa tuyệt vời giữa thiên nhiên và văn hóa trong ý tưởng quy hoạch phát triển đô thị dựa trên căn bản lý thuyết phong thủy phương đông.

GS.TS Ngô Đức Thịnh đã rất xác đáng khi nhận xét “văn hóa Huế là văn hóa đã định hình những sắc thái, giá trị, là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn hóa đô thị thời kỳ cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Do vậy văn hóa Huế gần như là duy nhất ở Việt Nam còn giữ lại tính cung đình/hoàng gia và quý tộc”

Cố GS Trần Quốc Vượng đã hết sức khâm phục sự sáng tạo của người dân xứ Huế qua việc khéo léo tạo ra trục kết nối 3 vùng sinh thái nhân văn là : Vùng đồi núi xứ huế - Vùng cồn bãi đôi bờ sông Hương (Kinh thành Huế là bộ phận cấu thành quan trọng nhất) - Vùng đầm phá ở cửa biển Thuận An bằng con sông Hương thơ mộng

Có thể chỉ ra những lợi thế so sánh của Huế so với các đô thị khác như sau:

 

 

  1.   Hệ thống cảnh quan tự nhiên đa dạng mà điển hình và hấp dẫn nhất vẫn là cảnh quan văn hóa đôi bờ sông Hương.
  2.   Huế làm chủ được đặc trưng của một “thành phố vườn” hiếm có ở Việt Nam.
  3.   Huế cũng là một đô thị có mạng lưới sông, hồ nổi danh trong cả nước (sông Hương, sông Ngự Hà, hồ Tĩnh Tâm…)
  4.   Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nói riêng cũng là một trong những địa phương có mật độ cây xanh cao nhất cả nước.
  5.   Đặc điểm cuối cùng và cũng là lợi thế cần được duy trì là mức độ ô nhiễm môi trường ở Huế còn tương đối thấp so với các đô thị đang phát triển ở các địa phương khác.

 

Trên các diễn đàn khoa học, người Huế luôn tự hào là cư dân của một thành phố - một điểm đến du lịch có 5 di sản tiêu biểu của Việt Nam và thế giới:

  •   Khu di sản văn hóa thế giới - quần thể di tích Cố đô huế,
  •   Âm nhạc cung đình Huế - di sản văn hóa phi vật thể đại điện của nhân loại,
  •   Mộc bản triều Nguyễn,
  •   Châu bản triều Nguyễn
  •   Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế - Di sản tư liệu/ký ức của nhân loại khu vực Châu Á - Thái bình dương.

 

Nói đến văn hóa Huế, ai cũng phải nhắc tới nét tài hoa của con người xứ Huế với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, cộng đồng đang nắm giữ, thực hành, bảo tồn và truyền dạy di sản. Chúng ta ai cũng phải xao xuyến trước nét duyên dáng của nón Bài thơ Huế, màu tím mộng mơ của Huế và nhất là giọng nói “dạ”, “thưa” ngọt ngào của những cô gái của xứ Huế “mộng và mơ”.

 

Văn hóa tâm linh hay văn hóa Phật giáo như là một yếu tố tạo nên sắc thái văn hóa nổi trội của xứ Huế . theo thống kê, hiện Huế đang có hơn 300 ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó phải kể tới những ngôi cổ tự nổi tiếng như : Thiên Mụ, Từ Đàm, Báo Quốc, Từ Hiếu, Quốc Ân, Trúc Lâm, Thiên Tôn, Trà Am, Vạn Phước… những ngôi chùa này cũng là kết quả của sự kết hợp tài tình giữa thiên nhiên và kiến trúc làm cho các thiết chế văn hóa Phật giáo trở thành biểu tượng văn hóa trong đời sống văn hóa tâm linh của Huế.

Thách thức lớn nhất đặt ra trong quá trình phát triển đô thị Huế với tư cách một trung tâm Chính trị - Văn hóa - Tôn giáo đang và sẽ là trung tâm kinh tế của miền Trung là làm sao vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế mà không xâm hại tối đa giá trị nổi bật toàn cầu cũng như tính toàn vẹn của một Khu di sản văn hóa thế giới.

Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa (lợi thế so sánh của Huế) phải trở thành hai yếu tố căn bản cấu thành tài nguyên du lịch nhưng chỉ riêng tài nguyên thiên nhiên và văn hóa không thể trở thành sản phẩm du lịch nếu không có sự góp mặt của các loại hình dịch vụ du lịch với đầy đủ tiện ích cần thiết.

 

Trên thế giới người ta đã xác định rõ mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển bền vững là :

Ngành di sản phải có các giải pháp bảo tồn phù hợp để biến di sản văn hóa thành tài sản theo nghĩa không bỏ qua “yếu tố kinh tế” trong di sản.

Ngành du lịch phải hợp tác với ngành di sản cùng tạo ra những loại hình dịch vụ du lịch thích hợp để biến di sản thành sản phẩm du lịch hấp dẫn - loại hàng hóa đặc thù có sắc thái văn hóa địa phương. Theo đó sẽ tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm du lịch so với các địa phương khác.

Di sản cùng với du lịch phải làm cho các tầng lớp cư dân trong xã hội, đặc biệt là du khách trong nước và quốc tế cảm thấy hài lòng khi tiếp cận, hưởng thụ các giá trị di sản cũng như mua sản phẩm du lịch.

Tạo cơ hội và điều kiện để di sản văn hóa có thể góp phần thức đẩy phát triển bền vững.

Văn hóa du lịch được thể hiện ở các mặt sau đây:

 

  •   Thái độ ứng xử đúng đắn của cộng đồng, của du khách và của doanh nghiệp kinh doanh du lịch đối với môi trường thiên nhiên và di sản văn hóa Huế.
  •   Thái độ tôn trọng của các doanh nghiệp và du khách đối với cộng đồng cư dân địa phương theo hướng chia sẻ lợi ích , tạo ra sinh kế bền vững để họ không cảm thấy bị gạt bỏ hoặc tách biệt với di sản.
  •   Thái độ ứng xử có văn hóa của chủ doanh nghiệp đối với nhân viên trong đơn vị cũng như mối quan hệ thân thiện và hợp tác giữa các đồng nghiệp trong công ty và cả khách hàng.

Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc đóng góp nguồn lực cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

 

Thiết lập và duy trì “sự cân bằng động” giữa bảo tồn và phát triển vừa là mục tiêu vừa là trách nhiệm của toàn xã hội. Đó là phương thức tốt nhất để gắn việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản thế giới - quần thể di tích Cố đô Huế với phát triển du lịch bền vững.

 

 

In văn bản